[»»-»-(¯`v´¯)-»*** ]º°(¯`(Pham-Tinh)´¯)[«-(¯`v´¯)-«-«)]

chào mừng bạn đến diễn đàn của tôi

December 2016

MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031 

Calendar Calendar

Thống Kê

Hiện có 0 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 0 Khách viếng thăm :: 1 Bot

Không


[ View the whole list ]


Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 30 người, vào ngày Tue Sep 17, 2013 9:22 am


    Sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue

    Share

    Admin
    Admin

    Tổng số bài gửi : 351
    Points : 897
    Reputation : 0
    Join date : 17/09/2009
    Age : 27
    Đến từ : Bến tre

    Sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue

    Bài gửi  Admin on Tue May 10, 2011 3:42 am



    1. Sốt Dengue (Dengue cổ điển)

    - Nung bệnh: từ 3-15 ngày

    - Khởi phát: những biểu hiện lâm sàng phụ thuộc vào lứa tuổi:

    + Trẻ còn bú và trẻ nhỏ có thể có triệu chứng sốt không đặc hiệu và phát ban.

    + Trẻ lớn và người lớn: sốt cao đột ngột kèm nhức đầu, đau rức 2 bên hố mắt, đau khắp người, đau cơ, đau khớp. Mệt mỏi, chán ăn.

    - Toàn phát: sốt cao 39 - 40oC, kèm theo các triệu chứng:

    + Xung huyết ở củng mạc mắt, đau rức quanh nhãn cầu.

    + Ðau cơ, đau khớp, mệt mỏi chán ăn.

    + Sưng hạch bạch huyết.

    + Phát ban ở ngoài ra, ban dát sẩn hoặc ban kiểu sởi.

    + Ðôi khi có xuất huyết ở da, niêm mạc. Rất hiếm xuất huyết nặng gây tử vong

    + Số lượng bạch cầu bình thường hoặc hơi hạ, tiểu cầu bình thường.

    + Hematocrit bình thường (không có biểu hiện cô đặc máu).

    + Sốt thường trong vòng 2 đến 7 ngày. Tiên lượng tốt, không xảy ra sốc.

    2. Sốt xuất huyết Dengue

    Lâm sàng sốt xuất huyết dengue không sốc:

    - Hội chứng nhiễm trùng: sốt cao đột ngột, nhiệt độ 39-40oC, sốt kéo dài 2-7 ngày, sốt kèm các triệu chứng như: mệt mỏi, chán ăn, đau bụng ở thượng vị hoặc hạ sườn phải, đôi khi nôn, gan to: ở trẻ em hay gặp hơn người lớn, đôi khi da xung huyết hoặc có phát ban.

    - Hội chứng thần kinh: đau người. đau cơ, đau khớp, rức đầu, đau quanh hố mắt; trẻ em nhỏ sốt cao, đôi khi co giật, hốt hoảng; không có biểu hiện màng não.

    - Hội chứng xuất huyết: thường xuất hiện vào ngày thứ 2 của bệnh. Trường hợp không có xuất huyết thì có dấu hiệu dây thắt dương tính.

    + Các biểu hiện xuất huyết tự nhiên hoặc xuất huyết khi tiêm chích sẽ thấy bầm tím quanh nơi tiêm.

    + Xuất huyết ngoài da: biểu hiện như các chấm xuất huyết, vết bầm tím, rõ nhất là xuất huyết ở mặt trước 2 cẳng chân, mặt trong 2 cẳng tay, gan bàn tay, lòng bàn chân.

    + Xuất huyết ở niêm mạc: chảy máu cam, chảy máu chân răng, xuất huyết dưới màng tiếp hợp, đi tiểu ra máu, kinh nguyệt kéo dài hoặc xuất hiện kinh nguyệt sớm hơn kỳ hạn.

    + Xuất huyết tiêu hóa: nôn ra máu, đi đại tiện ra máu. Khi có xuất huyết tiêu hóa nhiều, bệnh thường diễn biến nặng.

    Sốt xuất huyết Dengue có sốc:

    Khi bị bệnh sốt xuất huyết Dengue cần theo dõi sốc là biến chứng nặng dễ đưa đến tử vong. Do đó phải thường xuyên theo dõi huyết áp, mạch, nhiệt độ, hematocrit, số lượng nước tiểu.

    Sốc thường xảy ra vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 6 của bệnh, nhiệt độ hạ xuống đột ngột, da lạnh, tím tái, bệnh nhân vật vã, li bì. đau bụng cấp. Sốc xuất hiện nhanh chóng với mạch nhanh nhỏ khó bắt, da lạnh nhớp mồ hôi: huyết áp hạ, huyết áp tối đa dưới 90mmHg hoặc huyết áp kẹp (khoảng cách giữa tối đa và tối thiểu (20mmHg).

    Nếu không xử trí kịp thời, sốc diễn biến rất nhanh với huyết áp tụt xuống nhanh và đôi khi không đo được mạch nhỏ khó bắt, bệnh nhân ở trạng thái lơ mơ, thở yếu.

    Thời gian sốc thường ngắn và bệnh nhân có thể tử vong trong vòng 12 đến 24 giờ.

    Không xử trí nhanh chóng thì sốc kéo dài sẽ gây toan chuyển hóa, giảm natri máu và xuất hiện đông máu nội quản rải rác gây xuất huyết trầm trọng ở tiêu hóa và các cơ quan khác. Bệnh nhân có thể xuất huyết não đưa đến hôn mê.

    Tiến triển

    Thời kỳ hồi phục của sốt xuất huyết Dengue có sốc hoặc không sốc đều nhanh chóng: bệnh nhân ăn ngon miệng và thèm ăn là dấu hiệu tiên lượng tốt. Trong giai đoạn hồi phục có thể gặp tim đập chậm hoặc loạn nhịp xoang và khỏi trong vài ngày.

    Phân loại mức độ nặng hoặc nhẹ của bệnh Dengue xuất huyết

    Theo TCYTTG chia làm 4 độ:

    Dengue xuất huyết không sốc

    - Ðộ I: Sốt kéo dài 2-7 ngày, kèm theo các dấu hiệu không đặc hiệu (rức đầu, đau người...). Dấu hiệu dây thắt dương tính.

    - Ðộ II: Dấu hiệu như độ I kèm theo xuất huyết ngoài da, niêm mạc, phủ tạng.

    Dengue xuất huyết có sốc

    - Ðộ III: có dấu hiệu suy tuần hoàn, huyết áp hạ hoặc kẹp, mạch nhanh yếu, da lạnh, người bứt rứt, vật vã.

    - Ðộ IV: sốc sâu mạch nhỏ khó bắt, huyết áp không đo được, chân tay lạnh (HA=0).

    Xét nghiệm

    - Tiểu cầu: giảm dưới 100.000/mm3, thường gặp vào ngày thứ 2 trở đi.

    - Dung tích hồng cầu (hematocrit) tăng trên 20% (bình thường dung tích hồng cầu: 0,38-0,40). Khi dung tích hồng cầu tăng biểu hiện sự cô đặc máu và thoát huyết tương.

    Với hai triệu chứng như sốt 2-7 ngày, có biểu hiện xuất huyết ở da, niêm mạc hoặc có dấu hiệu dây thắt dương tính, kèm theo hai dấu hiệu phi lâm sàng là hạ tiểu cầu <100.000/mm3 và hematocrit tăng là đủ để chẩn đoán lâm sàng Dengue xuất huyết.

    Khi có tràn dịch màng bụng, tràn dịch màng phổi (lâm sàng, X-Quang phổi) và/hoặc giảm albumin trong máu là bằng chứng rõ rệt của sự thoát quản huyết tương.

    - Bạch cầu: bình thường hoặc hạ. Tăng tế bào huyết tương (plasmocyte).

    - Giảm protein và natri trong máu,

    - Transaminase huyết thanh tăng nhẹ.

    - Trong sốc kéo dài sẽ có toan chuyển hóa.

    - Bổ thể (chủ yếu C3a, C5a) trong huyết thanh giảm.

    Xét nghiệm về đông máu và tiêu fibrin nhận thấy: giảm flbrinogen, prothrombin, yếu tố VIII, yếu tố VII, yếu tố XII, antithrombin II và alpha-antiplasmin (yếu tố ức chế alpha-plasmin).

    Trong các trường hợp nặng nhận thấy có giảm prothrombin phụ thuộc vitamin K như các yếu tố V, VII, X. Khoảng 1/3 các trường hợp Dengue có sốc thì thời gian Prothrombin kéo dài và 1/2 số bệnh này có thời gian Thromboplastin bán phần kéo dài (Partial prothromboplastin time),

    - Ðôi khi trong nước tiểu có albumin nhưng nhẹ và nhất thời.
    I. Đại Cương

    A. Định nghĩa:
    Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm cấp tính, gây dịch do vi rút Dengue gây nên, bệnh lan truyền chủ yếu do muỗi Aedes aegypti. Theo Tổ chức Y tế thế giới, bệnh sốt xuất huyết Dengue hiện đang lan truyền ở nhiều nước trên thế giới với khảng 20 triệu người bị nhiễm vi rút Dengue và khoảng 500.000 trường hợp bị sốt xuất huyết Dengue phải nhập viện, trong đó chủ yếu là trẻ em. Tỷ lệ tử vong đến 5%, thậm chí cao hơn nếu không được chẩn đoán và điều trị thích hợp.
    Sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue được du nhập vào Việt Nam từ những năm 1960, cho đến nay đã trở thành một bệnh dịch lưu hành. Riêng năm 1998, số mắc trên toàn quốc lên tới 234.920 người và chết 377 người. Sốt xuất huyết dengue có thể gây bệnh cảnh nguy kịch, hội chứng sốc Dengue nhanh chóng dẫn tới tử vong nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
    B. Dịch tễ học bệnh dengue
    1. Tình hình mắc bệnh
    Cũng theo TCYTTG (1998), trong vòng 10 năm gần đây, bệnh SD/SXHD trở nên trầm trọng, có trên 100 nước ở châu Phi, châu Mỹ, vùng Ðông Ðịa Trung Hải, các nước Ðông Nam á và Tây Thái Bình Dương đều báo cáo có bệnh này. Trong vòng 9 năm từ 1990 đến 1998, số trường hợp trung bình hằng năm mắc SD/SXHD khoảng 514.139.000 người.
    Bệnh SD/SXHD trở thành một bệnh dịch lưu hành ở nước ta. Bệnh không chỉ xuất hiện ở đô thị mà cả vùng nông thôn, nơi có muỗi vectơ truyền bệnh. Dịch lớn SD/SXHD bùng nổ theo chu kỳ khoảng 3-5 năm. Năm 1998, trên toàn quốc bùng nổ vụ dịch lớn, số mắc bệnh và tử vong cao (mắc: 234.920 người, tử vong 377) (số liệu của Viện VSDT).
    Bệnh SD/SXHD ở Việt Nam phát triển theo mùa và cũng có sự khác biệt giữa các miền: miền Bắc: bệnh thường xảy ra nhiều từ tháng 7 đến tháng 9. Miền Nam và miền Trung, bệnh SD/SXHD xuất hiện quanh năm và tần số mắc bệnh nhiều nhất từ tháng 6 đến tháng 10. ở miền Nam, nơi có bệnh lưu hành cao nên lứa tuổi mắc bệnh phần lớn là trẻ em (95%).
    Ở nước ta, đã phân lập được cả 4 típ virus Dengue gây bệnh. Vào những năm 1991-1995, típ gây bệnh chủ yếu là típ Den 1 và Den 2; năm 1997-1998 là típ Den 3. Từ 1999 đến nay, típ Den 4 gia tăng và có lẽ sẽ là típ gây bệnh chính trong những năm tới.
    2. Tác nhân gây bệnh
    Virus Dengue truyền bệnh từ người bệnh sang người lành qua muỗi Aedes đốt. Virus là loại ARN virus, có 4 típ huyết thanh, có những kháng nguyên rất giống nhau, có thể gây phản ứng chéo 1 phần sau khi bị nhiễm 1 trong 4 típ và có những kháng nguyên đặc hiệu cho riêng từng típ. Virus có ở trong máu người bệnh trong thời gian bị sốt. Kháng nguyên virus Dengue được tìm thấy ở đại thực bào, phổi, lách, tuyến ức, tế bào Kuffer ở gan, tế bào monocyt ở máu ngoại biên.
    3. Nguồn bệnh và đường lây truyền
    Người bệnh là ổ chứa virus chính. Gân đây người ta phát hiện ở Malaysia có loại khỉ hoang dại ở những khu rừng nhiệt đới có mang virus Dengue.
    Người bệnh nhiễm virus Dengue bị muỗi Aedes đốt mang virus rồi truyền cho người lành. Khi bị bệnh, cơ thể sẽ xuất hiện kháng thể lgM kháng Dengue tạm thời kéo dài 8 tuần và khi phát hiện kháng thể này trong huyết thanh chứng tỏ bệnh nhân đang bị nhiễm virus Dengue cấp tính hoặc vừa mới khỏi bệnh.
    Kháng thể lgG kháng Dengue xuất hiện muộn hơn và tồn tại nhiều năm hoặc suốt đời và có miễn dịch với típ Dengue gây bệnh. Khi bị bệnh do một típ huyết thanh nào đó của virus Dengue thì sẽ có miễn dịch suốt đời với típ Dengue đó, nhưng không có miễn dịch với các típ khác. Do đó, nhiễm virus Dengue có thể bị mắc tới lần thứ 2 do típ huyết thanh khác gây bệnh.
    Nước ta có 2 loại muỗi Aedes gây bệnh chủ yếu là Aedes aegypti và Aedes albopictus. Muỗi Aedes hút máu ban ngày và thường hút máu nhiều nhất vào sáng sớm và chiều tối. Muỗi Aedes aegypti mình nhỏ, đen, có khoang trắng thường gọi là muỗi vằn, đậu ở nơi tối trong nhà, thường sống ở các đô thị. Muỗi Aedes albopictus thích sống ở lùm cây, ngọn cỏ, phần lớn sống ở vùng nông thôn. Sau khi hút máu người bệnh, muỗi cái có thể truyền bệnh ngay nếu hút máu người lành hoặc virus nhân lên ở tuyến nước bọt của muỗi sau đó 8-10 ngày hút máu người lành có thể truyền bệnh. Người ta thấy muỗi bị nhiễm virus Dengue có thể truyền bệnh suốt vòng đời của muỗi khoảng 174 ngày (5-6 tháng). Muỗi Aedes đẻ trứng, sau đó sinh ra bọ gậy (cung quăng) ở các dụng cụ chứa nước trong gia đình như chum, vại, bể nước, lọ hoa, chậu cảnh... hoặc ở ngoài nhà như hốc cây có nước, máng nước, vỏ đồ hộp, vỏ chai... hoặc ở rãnh nước, ao hồ. Chu kỳ phát triển từ trứng đến muỗi trưởng thành khoảng 11-18 ngày, khi nhiệt độ 29-31oC. Mật độ muỗi thường tăng vào mùa mưa, do đó, muốn phòng bệnh tốt cần phải loại bỏ được những dụng cụ chứa nước nơi muỗi đẻ trứng, hoặc thả cá ăn bọ gậy.
    Sự lan truyền dịch xảy ra ở những vùng có nhiều muỗi Aedes, vệ sinh môi trường kém, dân cư sống chen chúc và số người bị cảm thụ cao. Hiện nay, người ta chưa xác định được chính xác mật độ muỗi Aedes cần thiết để duy trì virus Dengue gây bệnh lưu hành hoặc các đợt gây dịch. Tuy nhiên, trong một gia đình, chỉ một số ít muỗi cái Aedes là có thể làm cả gia đình mắc bệnh.
    Muỗi Aedes sinh sản quanh năm, cao nhất vào những tháng sau mùa mưa muỗi sinh sản nhiều và liên quan đến việc tích trữ nước trong bể, chum vại, cống rãnh nước hoặc nước ở đồ phế thải chai lọ, vỏ đồ hộp... Muỗi Aedes không bay xa được (bay được khoảng 400m) nên sự di chuyển mang virus Dengue đến nơi xa là do muỗi mang virus hoặc người đang bị bệnh đi theo đường giao thông (máy bay, tầu hỏa, ô tô...) đến các nơi từ tỉnh này đến tỉnh khác.
    Dịch SXHD xuất hiện ở các nơi đông dân cư tập trung rồi sau đó lan dần đến các vùng nông thôn. Trẻ em ở nhà trẻ, trường học bị muỗi Aedes mang virus đốt ban ngày rồi trở về nhà mang virus về gia đình, khu phố, xóm làng. Người ta ước tính cứ 1 trường hợp SXHD có sốc vào bệnh viện thì có khoảng 200-500 người bị nhiễm virus Dengue có triệu chứng lâm sàng hay không có triệu chứng lâm sàng, nhất là ở vùng có mật độ muỗi Aedes cao.
    II. Lâm Sàng
    Các biểu hiện lâm sàng của nhiễm virus Dengue như: sốt Dengue, sốt xuất huyết Dengue, sốt đơn thuần (hội chứng nhiễm virus).

    1. Sốt Dengue (Dengue cổ điển)
    Nung bệnh: từ 3-15 ngày
    Khởi phát: những biểu hiện lâm sàng phụ thuộc vào lứa tuổi:
    Trẻ còn bú và trẻ nhỏ có thể có triệu chứng sốt không đặc hiệu và phát ban.
    Trẻ lớn và người lớn: sốt cao đột ngột kèm nhức đầu, đau rức 2 bên hố mắt, đau khắp người, đau cơ, đau khớp. Mệt mỏi, chán ăn.
    Toàn phát: sốt cao 39 - 40oC, kèm theo các triệu chứng:
    Xung huyết ở củng mạc mắt, đau rức quanh nhãn cầu.
    Ðau cơ, đau khớp, mệt mỏi chán ăn.
    Sưng hạch bạch huyết.
    Phát ban ở ngoài ra, ban dát sẩn hoặc ban kiểu sởi.
    Ðôi khi có xuất huyết ở da, niêm mạc. Rất hiếm xuất huyết nặng gây tử vong
    Số lượng bạch cầu bình thường hoặc hơi hạ, tiểu cầu bình thường.
    Hematocrit bình thường (không có biểu hiện cô đặc máu).
    Sốt thường trong vòng 2 đến 7 ngày. Tiên lượng tốt, không xảy ra sốc.
    2. Sốt xuất huyết Dengue
    Lâm sàng sốt xuất huyết dengue không sốc:
    Hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc: sốt cao đột ngột, nhiệt độ 39-40oC, sốt kéo dài 2-7 ngày, sốt kèm các triệu chứng như: mệt mỏi, chán ăn, đau bụng ở thượng vị hoặc hạ sườn phải, đôi khi nôn, gan to: ở trẻ em hay gặp hơn người lớn, đôi khi da xung huyết hoặc có phát ban, đau người. đau cơ, đau khớp, rức đầu, đau quanh hố mắt; trẻ em nhỏ sốt cao, đôi khi co giật, hốt hoảng; không có biểu hiện màng não.
    Hội chứng xuất huyết: thường xuất hiện vào ngày thứ 2 của bệnh. Trường hợp không có xuất huyết thì có dấu hiệu dây thắt dương tính.
    Các biểu hiện xuất huyết tự nhiên hoặc xuất huyết khi tiêm chích sẽ thấy bầm tím quanh nơi tiêm.
    Xuất huyết ngoài da: biểu hiện như các chấm xuất huyết, vết bầm tím, rõ nhất là xuất huyết ở mặt trước 2 cẳng chân, mặt trong 2 cẳng tay, gan bàn tay, lòng bàn chân.
    Xuất huyết ở niêm mạc: chảy máu cam, chảy máu chân răng, xuất huyết dưới màng tiếp hợp, đi tiểu ra máu, kinh nguyệt kéo dài hoặc xuất hiện kinh nguyệt sớm hơn kỳ hạn.
    Xuất huyết tiêu hóa: nôn ra máu, đi đại tiện ra máu. Khi có xuất huyết tiêu hóa nhiều, bệnh thường diễn biến nặng.
    Sốt xuất huyết Dengue có sốc:
    Khi bị bệnh sốt xuất huyết Dengue cần theo dõi sốc là biến chứng nặng dễ đưa đến tử vong. Do đó phải thường xuyên theo dõi huyết áp, mạch, nhiệt độ, hematocrit, số lượng nước tiểu.
    Sốc thường xảy ra vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 6 của bệnh, nhiệt độ hạ xuống đột ngột, da lạnh, tím tái, bệnh nhân vật vã, li bì. đau bụng cấp. Sốc xuất hiện nhanh chóng với mạch nhanh nhỏ khó bắt, da lạnh nhớp mồ hôi: huyết áp hạ, huyết áp tối đa dưới 90mmHg hoặc huyết áp kẹp (khoảng cách giữa tối đa và tối thiểu (20mmHg).
    Nếu không xử trí kịp thời, sốc diễn biến rất nhanh với huyết áp tụt xuống nhanh và đôi khi không đo được mạch nhỏ khó bắt, bệnh nhân ở trạng thái lơ mơ, thở yếu.
    Thời gian sốc thường ngắn và bệnh nhân có thể tử vong trong vòng 12 đến 24 giờ.
    Không xử trí nhanh chóng thì sốc kéo dài sẽ gây toan chuyển hóa, giảm natri máu và xuất hiện đông máu nội quản rải rác gây xuất huyết trầm trọng ở tiêu hóa và các cơ quan khác. Bệnh nhân có thể xuất huyết não đưa đến hôn mê.
    Tiến triển
    Thời kỳ hồi phục của sốt xuất huyết Dengue có sốc hoặc không sốc đều nhanh chóng: bệnh nhân ăn ngon miệng và thèm ăn là dấu hiệu tiên lượng tốt. Trong giai đoạn hồi phục có thể gặp tim đập chậm hoặc loạn nhịp xoang và khỏi trong vài ngày.
    Phân loại mức độ nặng hoặc nhẹ của bệnh Dengue xuất huyết: Theo TCYTTG chia làm 4 độ:
    Dengue xuất huyết không sốc
    Ðộ I: Sốt kéo dài 2-7 ngày, kèm theo các dấu hiệu không đặc hiệu (rức đầu, đau người...).Dấu hiệu dây thắt dương tính.
    Ðộ II: Dấu hiệu như độ I kèm theo xuất huyết ngoài da, niêm mạc, phủ tạng.
    Dengue xuất huyết có sốc
    Ðộ III: có dấu hiệu suy tuần hoàn, huyết áp hạ hoặc kẹp, mạch nhanh yếu, da lạnh, người bứt rứt, vật vã.
    Ðộ IV: sốc sâu mạch nhỏ khó bắt, huyết áp không đo được, chân tay lạnh (HA=0).
    Xét nghiệm
    Tiểu cầu: giảm dưới 100.000/mm3, thường gặp vào ngày thứ 2 trở đi.
    Dung tích hồng cầu (hematocrit) tăng trên 20% (bình thường dung tích hồng cầu: 0,38-0,40). Khi dung tích hồng cầu tăng biểu hiện sự cô đặc máu và thoát huyết tương.
    Với hai triệu chứng như sốt 2-7 ngày, có biểu hiện xuất huyết ở da, niêm mạc hoặc có dấu hiệu dây thắt dương tính, kèm theo hai dấu hiệu phi lâm sàng là hạ tiểu cầu <100.000/mm3 và hematocrit tăng là đủ để chẩn đoán lâm sàng Dengue xuất huyết.
    Khi có tràn dịch màng bụng, tràn dịch màng phổi (lâm sàng, X-Quang phổi) và/hoặc giảm albumin trong máu là bằng chứng rõ rệt của sự thoát quản huyết tương.
    Bạch cầu: bình thường hoặc hạ. Tăng tế bào huyết tương (plasmocyte).
    Giảm protein và natri trong máu,
    Transaminase huyết thanh tăng nhẹ.
    Trong sốc kéo dài sẽ có toan chuyển hóa.
    Bổ thể (chủ yếu C3a, C5a) trong huyết thanh giảm.
    Xét nghiệm về đông máu và tiêu fibrin nhận thấy: giảm flbrinogen, prothrombin, yếu tố VIII, yếu tố VII, yếu tố XII, antithrombin II và alpha-antiplasmin (yếu tố ức chế alpha-plasmin).
    Trong các trường hợp nặng nhận thấy có giảm prothrombin phụ thuộc vitamin K như các yếu tố V, VII, X. Khoảng 1/3 các trường hợp Dengue có sốc thì thời gian Prothrombin kéo dài và 1/2 số bệnh này có thời gian Thromboplastin bán phần kéo dài (Partial prothromboplastin time),
    Ðôi khi trong nước tiểu có albumin nhưng nhẹ và nhất thời.
    III. Chẩn đoán
    Chẩn đoán xác định Dengue xuất huyết
    1. Phân lập virus
    Virus Dengue có thể phân lập được từ các bệnh phẩm: huyết thanh, máu của bệnh nhân. Theo Gubler (1981) thì thời gian có nồng độ cao của virus trong máu từ ngày 1 - 6 của bệnh.
    Khi bệnh nhân tử vong lấy các bệnh phẩm gan, lách, hạch, tuyến ức để phân lập virus.
    Các bệnh phẩm được bảo quản thời gian ngắn (dưới 24 giờ) ở + 4oC. Nếu bảo quản lâu hơn phải để đông lạnh ở -70oC.
    2. Huyết thanh chẩn đoán
    Có hai kiểu đáp ứng huyết thanh khi nhiễm virus Dengue cấp tính đó là đáp ứng tiên phát và đáp ứng thứ phát (primary and secondary responses).
    Ðáp ứng tiên phát xảy ra ở bệnh nhân chưa có miễn dịch với Flavivirus (nghĩa là chưa bao giờ bị nhiễm Flavivirus và chưa tiêm chủng vaccin có chứa loại flavivirus như vaccin sốt vàng 17D, hoặc vaccin viêm não Nhật Bản. Theo TCYTTG (1986), đáp ứng huyết thanh thứ phát xảy ra những người bị nhiễm virus Dengue cấp mà trước đó dã bị nhiễm flavivirus.
    Loại đáp ứng thứ phát có thể xảy ra do kết quả đáp ứng miễn dịch với các flavivirus khác (viêm não Nhật Bản, sốt vàng hoặc các típ huyết thanh khác nhau của virus Dengue: ví dụ nhiễm Dengue típ 2 ở những người trước đó đã mắc bệnh có miễn dịch với Dengue típ 1). Một khi đã bị nhiễm với 1 típ của virus Dengue thì ít khi mắc lại với típ huyết thanh đó.
    Trong nhiễm trùng tiên phát thì đáp ứng kháng thể tăng chậm với mức độ tương đối thấp và có tính chất đặc hiệu cho từng típ. Ðối với nhiễm trùng thứ phát, hiệu giá kháng thể tăng nhanh chóng với mức độ cao và có phản ứng với nhiều loại kháng nguyên của nhóm Flavivirus.
    2.1. Phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu (Haemaglutination inhibition = HI)
    Ðược sử dụng rộng rãi ở nhiều nước:
    Lấy mẫu huyết thanh lần 1 khi bệnh nhân vào viện.
    Lấy mẫu huyết thanh lần 2 sau 7 đến 10 ngày: khi bệnh nhân xuất viện.
    Nếu có thể được lấy máu để thử huyết thanh lần 3 vào ngày thứ 14 đến 21 kể từ khi mắc bệnh.
    Lý tưởng nhất là lấy 3 mẫu máu để thử phản ứng và thử lần lượt với cả 4 típ kháng nguyên của virus Dengue, trong mỗi một phản ứng dùng 4 - 8 đơn vị ngưng kết hồng cầu nếu lấy lần 1 cách lần 2 từ 10 đến 14 ngày thì rất khó xác định nhiễm trùng tiên phát. Tuy nhiên có thể thay bằng test đơn độc, sử dụng 1 kháng nguyên có đáp ứng rộng (thường là típ 1 hoặc típ 4), nhưng giảm tính nhạy cảm.
    Nếu mẫu huyết thanh kép không có kháng thể hoặc tăng kháng thể không cao, thì sau đó các mẫu này nên làm lại với tất cả 4 típ kháng nguyên Dengue.
    2.2. Phản ứng cố định bổ thể
    Phản ứng này kém nhạy cảm hơn phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu hoặc phản ứng trung hòa.
    Hiệu giá kháng thể lần 2 tăng gấp 4 lần hiệu giá kháng thể lần 1 trong hai mẫu huyết thanh cách nhau 2 tuần, nếu tăng chứng tỏ có đáp ứng thứ phát.
    2.3. Phản ứng trung hòa
    Trong nhiễm trùng tiên phát thì kháng thể trung hòa tương đối đặc hiệu đơn típ (monotype neutralizing antibodies) xuất hiện sớm ở giai đoạn đầu của thời kỳ hồi phục.
    2.4. Tìm IgM và IgG kháng thể kháng virus Dengue
    Kháng thể IgM kháng Dengue tạo ra trong giai đoạn cấp. Nếu có IgM là đang bị nhiễm virus Dengue cấp tính hoặc vừa mới xảy ra.
    Kháng thể IgG kháng Dengue xuất hiện trong nhiễm trùng tiên phát và thứ phát, nhưng trong nhiễm trùng thứ phát hiệu giá rất cao so với nhiễm trùng tiên phát.
    Xác định IgM, IgG kháng virus Dengue có lợi ích để phát hiện bệnh ở những trường hợp tản phát hoặc bệnh nặng có nguy cơ tử vong cao.
    Hiện nay đang sử dụng phản ứng MAC-ELISA để tìm kháng thể típ IgM kháng Dengue để chẩn đoán bệnh nhiễm virus Dengue cấp tính.
    IV. Phòng Bệnh
    Những nỗ lực để giám sát cần phải trực tiếp hướng tới để diệt muỗi và loại trừ những nơi muỗi sinh sản. Những biện pháp này rất quan trọng nhằm để loại trừ muỗi và những nơi muỗi sinh sản. Các biện pháp cần được tăng cường trước khi có sự chuyển mùa (trong và sau mùa mưa) và trong các vụ dịch...
    1. Phòng muỗi đốt:
    Muỗi truyền virus Dengue đốt người vào ban ngày, cho nên phải tự bảo vệ để tránh muỗi đốt.
    Mặc quần áo dài che kín tay chân.
    Sử dụng thuốc diệt muỗi thận trọng khi sử dụng thuốc này đối với trẻ nhỏ và người già.
    Dùng các dụng cụ bắt muỗi và diệt muỗi vào ban ngày.
    Dùng màn để tránh muỗi cho trẻ em, người già và những người khác khi ngủ ban ngày. Tác dụng của màn tốt hơn khi tẩm Permethrin (chất diệt côn trùng pyrethroid), rèm (bằng vải hoặc bằng tre) cũng có thể được tẩm chất diệt côn trùng và treo tại cửa sổ hoặc cửa ra vào để xua muỗi và diệt muỗi.Phá vỡ chu kỳ lây truyền muỗi người muỗi. Muỗi nhiễm virút khi chúng hút máu người bị bệnh. Màn chống muỗi và dụng cụ diệt muỗi sẽ giúp ngăn ngừa có hiệu quả để tránh muỗi đốt người và giúp ngăn chặn lây lan của virút Dengue. .
    2. Phòng muỗi sinh sản:
    Muỗi truyền virút Dengue sống và sinh sản ở những nơi nước ứ đọng ở trong và xung quanh nhà.
    Ðổ nước thừa ở chỗ ứ nước, máy điều hoà, ơ các bể, thùng nước, xô, chậu...
    Bỏ tất cả các vật dụng mà chứa nước đọng (chẳng hạn như ở chậu cây cảnh . . . ) ra khỏi nhà .
    Luôn luôn đậy kín tất cả các vật dụng chứa nước.
    Thu nhặt và loại bỏ những dụng cụ mà nước có thế đọng lại như : chai, lọ, túi nhựa, lon đồ hộp, lốp xe đạp,v.v..
    * Cơ chế bệnh sinh:
    Giả thuyết về cơ địa bệnh nhân: bệnh nhân nhiễm VR Dengue có xuất huyết và có sốc là do tái nhiễm VR Dengue khác typ và do đáp ứng miễn dịch bệnh lý của cơ thể.
    Người ta thấy rằng: kháng thể đốí với một serotyp Dengue có phản ứng với những serotyp Dengue còn lại, nhưng không trung hòa được.
    =>> Khi nhiễm VR lẫn 2, cơ thể sinh ra kháng thể không trung hòa (non Neutralited antibody), không trung hòa VR mà chỉ gắn vào VR ở 1 ơhần nào đó. Phản ứng kháng nguyên - kháng thể này không giúp bảo vệ cơ thể mà còn làm cho VR dễ dàng xâm nhập vào cơ thể, vào các tế bào hơn. Phức hợp KN-KT lắng đọng ở nội mạc mao mạch nhỏ gây tổn thương nội mạc -> tăng tính thấm thành mạch.

    * Sinh lý bệnh: có 2 rối loạn cơ bản:
    1. Tăng tính thấm thành mạch: do phản ứng KN-KT bổ thể và do VR Dengue sinh sản trong bạch cầu đơn nhân dẫn đến:
    - Giải phóng các chất trung gian vận mạch (Anaphylatoxin, histamin, kinin, serotonin...)
    - Kích hoạt bổ thể
    - Giải phóng thromboplastin tổ chức
    =>> Thành mạch tăng tính thấm, dịch từ trong lòng mạch thoát ra ngoài gian bào, hậu quả là giảm khối lượng máu lưu hành, máu cô (HC tăng, HCT tăng) và dẫn đến sốc giảm thể tích.
    Là giai đoạn đầu, chưa có xuất huyết tự nhiên, nếu có là xuất huyết thành mạch hoặc do tác động của áp lực: Dấu hiệu dây thắt ((+) 1-2 ngày sau sốt).
    2. Rối loạn đông máu trong sốt xuất huyết Dengue là do:
    - Thành mạch bị tổn thương và tăng tính thấm
    - Tiểu cầu giảm
    - Các yếu tố đông máu giảm do bị tiêu thụ vào quá trình tăng đông
    - Suy chức năng gan: giảm tổng hợp các yếu tố đông máu (vấn đề này cần được nghiên cứu tiếp)
    =>> Khi nội mạc mao mạch tổn thương => mất tính trơn nhẵn làm tiểu cầu kết tập lại thành những đám kết tập tiểu cầu và khởi động các phản ứng đông máu => số lượng TC giảm => xuất huyết giảm TC (thường từ N5 của bệnh)
    Dẫn đến xuất huyết đa hình thái: dưới da, niêm mạc, phủ tạng (nôn máu, đái máu, ra máu âm đạo không đúng chu kỳ hoặc kéo dài... có thể xuất huyết não gây tử vong)

    *Tiêu chuẩn chẩn đoán Dengue xuất huyết:
    1. Sốt cấp diễn từ 2-7 ngày (đặc điểm là đột ngột sốt cao, sốt dài ngày khó hạ, sốt nóng hoặc rét)
    2. Xuất huyết xảy ra vào N2 -3 của bệnh dưới nhiều hình thái:
    - Dấu hiệu dây thắt (+)
    - Xuất huyết tự nhiên ở da hoặc niêm mạc
    3. Gan to
    4. XN:
    - BC giảm (với Dengue xuất huyết có thể giảm tới < 3G/l, nếu nhiễm VR thông thường BC thường chỉ giảm tới 5 -6G/l)
    - TC giảm <= 100G/l
    - HCT tăng từ 20% trở lên so với bình thường hoặc có bằng chứng tăng tính thấm thành mạch rõ (?)
    XN đặc hiệu:
    - Phân lập VR: làm sớm ở những ngày đầu của bệnh
    - Phản ứng huyết thanh: bằng kỹ thuật ngăn ngưng kết hồng cầu (HI) làm 2 lần, lần 1 vào tuần đầu của bệnh, lần 2 cách lần 1 từ 7 -14ngày
    - Các XN ELISA, Mac-ELISA, PCR...
    5. Dịch tễ: Dịch thường xảy ra vào mùa mưa, nóng ở địa phương có sốt xuất huyết Dengue lưu hành.

    * Tiêu chuẩn chẩn đoán Dengue xuất huyết ở trẻ em:
    - LS:
    1. Sốt cấp diễn 2-7 ngày
    2. Xuất huyết (nt)
    - CLS:
    3. TC giảm <= 100G/l
    4. Máu cô: HCT tăng từ 20% trở lên so với bình thường (nếu bệnh nhân đã truyền dịch trước khi XN có thể HCT không cao, còn số lượng TC không ảnh hưởng bởi truyền dịch)
    5. Albumin máu giảm (do thoát dịch và protein)
    - Có thể có:
    6. Sốc: HA tụt/ kẹt ((HAmax- HAmin) < 20mmHg)
    7. Tràn dịch màng phổi
    - 8. Dịch tễ.

    * Một số vấn đề điều trị:
    Nguyên tắc:
    - Bổ sung dịch thể sớm tùy theo mức độ bệnh
    - Hạ nhiệt khi sốt cao, an thần
    - Xử trí tốt mọi xuất huyết, truyền máu tươi khi xuất huyết phủ tạng nặng
    - Phát hiện và xử trí sớm sốc
    - Nuôi dưỡng, săn sóc hộ lý tốt bệnh nhân

    1. Bổ sung dịch thể:
    Nguyên tắc:
    - Độ I: chủ yếu uống
    - Độ II: uống kết hợp với truyền
    - Độ III: chủ yếu truyền
    - Độ III: truyền tốc độ nhanh
    Loại dịch:
    - Dịch uống: Oresol (NaCl 3,5g + NaHCO3 2,9g +KCl 1,5g + Glucose 20g) pha với 1 lít nước sôi để nguội
    - Dịch truyền: Ringer lactat + Glucose 5% hoặc NaCl 0,9% + Glucose 5% theo tỷ lệ 2/1; 3/1 nếu điện giải thấp 1/1. Khi nhiễm toan bổ sung thêm natri bicarbonat đẳng trương (1,4%)
    Lượng dịch bổ sung với độ I và độ II: lượng dịch bổ sung cần căn cứ vào nhiệt độ, mồ hôi, nôn, lượng nước tiểu và HCT. Trung bình 2lít/24h với người lớn và 1lít/24h với trẻ em. Theo WHO năm 1997 những trường hợp có mất nước nhưng chưa có sốc:
    - Bổ sung khối lượng dịch đã mất: 10ml/kg khi mất 1% trọng lượng cơ thể.
    Bổ sung dịch thể sớm là biện pháp số 1 để ngăn ngừa sốc, mọi bệnh nhân dù nhẹ (độ I) cũng cần ép uống nước (Oresol), nước hoa quả, nước lọc.

    2. Xử trí xuất huyết:
    - XH dưới da: không cần xử trí có thể dùng Vitamin C, P, rutin, thuốc kháng histamin để bảo vệ thành mạch, hạn chế phản ứng dị ứng quá mẫn.
    - XH niêm mạc: chảy máu cam dùng bông thấm antipyrin 20% hoặc thuốc co mạch nhét chặt lỗ mũi hoặc dùng gelaspon. Khi có chảy máu cam nhiều cần phải can thiệp chuyên khoa tai mũi họng.
    - XH phủ tạng: truyền máu tươi khi có HCT thấp. Truyền huyết tương, khối tiểu cần khi HCT cao. (Truyền máu tươi khi có HCT cao sẽ làm tăng tình trạng máu cô. Truyền khối tiểu cầu khi TC <30G/l (người lớn) , <20G/l (trẻ em)

    3. Hạ sốt khi có sốt cao, an thần:
    - Tốt nhất là hạ nhiệt bằng phương pháp vật lý, nới lỏng quần áo lau nước mát không được chườm đá (co mạch, không thoát được mồ hôi, không hạ sốt được)
    - Thuốc hạ nhiệt: chỉ được dùng paracetamol đơn chất. Liều dùng 10-15mg/kg cân nặng cách nhau 4-6h uống 1 lần, tổng liều không quá 60mg/kg/24h. Không được dùng các thuốc hạ nhiệt khác như acetyl salicylic acid, analgin, Ibu-Profen... để hạ sốt vì có thể gây xuất huyết và tan máu.
    - Thuốc an thần: brromua calci, diazepam...

    4. Biện pháp khác:
    - Nằm nghỉ tại giường
    - Trợ tim mạch khi cần
    - Nuôi dưỡng: ăn lỏng, đủ chất, đủ vitamin
    5. Không khuyến cáo sử dụng Corticoid trừ khi có sốc. Dù cơ chế kết hợp kháng nguyên - kháng thể nhưng corticoid không có tác dụng nhiều, mặt khác làm giảm sức đề kháng của cơ thể, chậm hình thành kháng thể chủ động của cơ thể.
    Nếu sốc thì dùng liều cao ngắn ngày kèm theo bảo vệ niêm mạc dạ dày (tránh xuất huyết tiêu hoá). Nếu đang có các bệnh dị ứng kèm theo cần dùng corticoid cần cân nhắc khi sử dụng.
    6. Bổ sung Canxi sớm.

      Hôm nay: Fri Dec 02, 2016 1:04 pm